![]() |
Tổng quan về doanh nghiệp nội
Theo báo cáo Năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại
Việt Nam vừa được công bố ngày 3/11, doanh nghiệp vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) đang có mối quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp
trong nước, song chỉ 1/5 số doanh nghiệp Việt “chơi” được với doanh
nghiệp FDI.
“Doanh nghiệp nội địa Việt Nam chưa tối ưu hóa được mối quan hệ với
doanh nghiệp FDI, chỉ một số ít đơn vị tư nhân đóng vai trò thu mua
đầu vào hay có khách hàng là doanh nghiệp nước ngoài”, Giáo sư John
Rand, trường Đại học Copenhagen (Đan Mạch) cho biết.
Dù là nước có thu nhập thấp hoặc trung bình thấp đang tranh thủ hút
dòng vốn ngoại để cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động, song
khảo sát gần 8.000 doanh nghiệp, nhóm tác giả báo cáo phản ánh chưa nhìn
thấy tầm quan trọng của doanh nghiệp FDI trong chuyển giao công nghệ.
Phần lớn chỉ có doanh nghiệp nội địa chuyển giao công nghệ với nhau
(chiếm 66%).
“Hiện chuyển giao công nghệ tại Việt Nam diễn ra chủ yếu giữa doanh
nghiệp trong nước, một nguyên nhân khiến quá trình chuyển giao diễn ra
chậm chạp", Giáo sư John Rand nhận định.
Tuy nhiên, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng một trong những
nguyên nhân khiến mối quan hệ này chưa tác động hai chiều là khu vực FDI
đang được hưởng ưu đãi nhiều hơn doanh nghiệp trong nước. “Khi không
chơi cùng một sân chơi bằng phẳng thì các doanh nghiệp được ưu đãi sẽ
chơi với nhau, bỏ lại cả một khu vực rộng lớn doanh nghiệp tư nhân,
doanh nghiệp nhỏ và vừa khó tiếp cận được công nghệ chuyển giao từ lực
lượng lớn kia”, bà Lan phát biểu.
Lấy ví dụ từ dự án của Samsung, vị chuyên gia này cho hay cả những đơn
vị nước ngoài làm phụ trợ cho doanh nghiệp này cũng được hưởng ưu đãi về
thuế, trong khi doanh nghiệp trong nước phải chịu thuế thu nhập 22%. Sự
bất bình đẳng dẫn tới không thể khuyến khích chuyển giao công nghệ.
"Cần đặt doanh nghiệp trong một sân chơi sòng phẳng hơn với doanh
nghiệp trong nước thì mới khuyến khích chuyển giao công nghệ. Đừng nhắm
mắt nghĩ là phải ưu đãi nhiều cho FDI thì họ sẽ chuyển giao", bà nói.
Thêm vào đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Tuệ Anh - Phó viện trưởng Viện nghiên
cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng hoạt động nghiên cứu phát
triển vẫn còn yếu, cần tích cực đầu tư đổi mới công nghệ. Khảo sát cho
thấy, chỉ khoảng 514 trong tổng số 8.010 doanh nghiệp được điều tra
(chiếm 6,4%) đầu tư vào một số hình thức nghiên cứu và triển khai. Trong
đó, hơn một nửa chi phí nghiên cứu dành cho phát triển công nghệ mới
đối với thị trường doanh nghiệp hoạt động chứ không phải là nghiên cứu
tiên phong, vốn chỉ chiếm khoảng 4% tổng chi phí nghiên cứu.
Theo báo cáo xếp hạng năng lực Việt Nam toàn cầu, năm 2014, Việt Nam
đứng thứ 68, với một số yếu tố kém lạc quan như mức độ hấp thụ công nghệ
(xếp thứ 99), các yếu tố đổi mới sáng tạo và độ tinh xảo kinh doanh
(xếp thứ 98). “Điều này cho thấy đã đến thời điểm Việt Nam phải đi trên
con đường cải tiến về công nghệ", Giáo sư Finn Tarp - Đại học Copenhagen
khẳng định.
Ông cho rằng cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua phát triển công
nghệ sẽ quyết định số phận kinh tế Việt Nam có tươi sáng, khẳng định
trên thị trường quốc tế hay không. "Điều quan trọng là chặng đường phía
trước còn dài và chúng ta phải tiếp tục đi, không thể dừng lại giữa
đường", Giáo sư Tarp nói.
Báo cáo năng lực cạnh tranh và công nghệ ở cấp độ doanh nghiệp tại Việt
Nam được thực hiện bởi các chuyên gia đến từ Viện Nghiên cứu Quản lý
kinh tế Trung ương, Tổng cục Thống kê, Đại học Copenhagen (Đan Mạch).
Khảo sát năm 2013 tiến hành với 8.010 doanh nghiệp, bao gồm 40% doanh
nghiệp nhỏ, 37% doanh nghiệp vừa, 14% doanh nghiệp lớn và 9% doanh
nghiệp siêu nhỏ.
Theo: Vnexpress

0 nhận xét:
Đăng nhận xét